haisanvanphong

Just another WordPress.com site

HƯỚNG DẪN KỸ THUẬT NUÔI TU HÀI

on Tháng Năm 11, 2012

Tên khoa học là: Lutraria rhynchaena. Tu hài là loài nhuyễn thể không xương có giá trị kinh tế cao. Thịt tu hài được đánh giá không chỉ ngon mà còn chứa đựng rất nhiều thành phần dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe con người.
Tu hài thích hợp với việc nuôi ở vùng nước biển trong lành và điều kiện khí hậu thuận lợi, sinh trưởng, ăn thức ăn tự nhiên có sẵn trong nguồn nước biển như: tảo, các loại thức ăn có lợi cho môi trường, phù hợp với điều kiện tự nhiên.
Image
Theo TT Tin học thống kê – Bộ Nông nghiệp
Chọn giống
Chuẩn bị
Chăm sóc
Thu hoạch
Quy trình sản suất giống Tu hài
Địa điểm: gần vùng biển; thuận lợi về điện, nước, phương tiện giao thông và các dịch vụ sinh hoạt khác.

Nguồn nước (ngọt, mặn): đầy đủ; trong, sạch (không bị ô nhiễm chất thải sinh hoạt, chất thải công nghiệp và thuốc trừ sâu); không bị ảnh hưởng bởi mưa lũ (nước ngọt).

Image

Xây dựng và trang bị:

– Bể chứa 2 ngăn có tổng thể tích gấp 5 – 6 lần thể tích bể nuôi ấu trùng.

– Bể lọc 1 m3, cao 1,2 m; thuận lợi cho việc dẫn nước.

– Hệ thống ươm nuôi ấu trùng gồm 12 bể xi măng 2 m x 2 m x 1,2 m, chia thành 2 dãy.

– Sáu bể xi măng nuôi ấu trùng sống đáy có kích thước 6 m x 2 m x 0,8 m, chia thành 2 dãy.

– Bể nuôi tu hài bố mẹ được đặt cùng dãy với bể ươm ấu trùng, nhưng tách rời 1 m; lù đặt ở đáy, nghiêng về một phía; giữa lớp cát và san hô có lưới ngăn.

– Hệ thống nuôi thức ăn (tảo) gồm: phòng phân lập và lưu giữ giống tảo có trang bị tủ sấy tiệt trùng, nồi hấp, buồng cấy, đèn cực tím, kính hiển vi, tủ lạnh, bếp điện, ống nghiệm, pipét, buồng đếm, hóa chất…; hệ thống nuôi tảo sinh khối gồm bể xi măng (0,5 – 1 – 2 – 3 m3) che bằng vật liệu nhẹ (tôn nhựa, lưới lan), thùng nhựa 100 lít; hệ thống khí và cấp, thoát nước, xô, chậu, lưới, vợt, đá bọt, dây sục khí, cân…; hệ thống xử lý tia tử ngoại Ultraqua (nếu có điều kiện).

Nuôi tu hài bố mẹ: tuyển chọn tu hài bố mẹ từ khai thác ngoài tự nhiên dựa vào các chỉ tiêu sau: dài trên 63 mm, nặng 80 – 100 g; khỏe mạnh, không bị thương tổn ở vỏ và phần thịt; vòi siphon mập chắc thụt nhanh vào trong vỏ khi chạm nhẹ vào cơ thể, vỏ khép lại kín khi nhấc lên khỏi mặt nước, khi thả xuống nước nó nhanh chóng thò chân ra đào lỗ ẩn mình vào đáy. Sau khi lựa chọn, kích thích cho đẻ ngay, nếu không có hiện tượng phóng tinh và trứng thì tiến hành nuôi vỗ phát dục trong bể xi măng 4 m3 với mật độ 15 con/m2. Cho ăn 2 lần/ngày (sáng, chiều); thức ăn chính là tảo đơn bào (như Nannochloropsis oculata, Chaetoceros muelleri, Ch. gracilis, Platymonas sp…) với mật độ 250.000 – 300.000 tb/ml. Hàng ngày làm siphon, cấp nước chảy tràn 1 – 2 giờ. Loại bỏ những con chết, sục khí liên tục 24/24 giờ.

Kích thích sinh sản: rửa sạch tu hài bố mẹ bằng nước biển, đựng vào các rổ nhựa, để nơi thoáng mát, dưới ánh nắng yếu, kích thích khô 30 – 40 phút; cho vào bể đẻ, cấp nước bằng dòng chảy nhẹ và sục khí đều. Dưới tác động thay đổi nhiệt độ và dòng chảy, tu hài bố mẹ bị kích thích, trứng và tinh trùng được phóng ra và thụ tinh trong nước.

Nuôi ấu trùng nổi: trứng sau khi đẻ được lọc, san thưa và chuyển vào các bể ươm (bể composit 1 – 2 m3 hoặc bể xi măng 4 – 5 m3) với các yếu tố môi trường thích hợp như nhiệt độ 28 – 300C, độ mặn 28 – 30%o. Mật độ ươm ấu trùng nổi là 3 con/ml (15 triệu con/bể 5 m3 ), thức ăn là tảo đơn bào (các ngày đầu cho tảo Nanno, sau đó thêm tảo khác); cho ăn 2 lần/ngày, với lượng tăng dần (từ 3.000 tb/ml lên 15.000 tb/ml); hàng ngày thay 1/3 thể tích nước trong bể; sau 2 ngày, lọc ấu trùng chuyển sang bể mới.

Ươm nuôi ấu trùng sống đáy: xác định ấu trùng đã chuyển sang giai đoạn hậu Umbo để chuyển sang bể đã chuẩn bị chất đáy (cát trộn mảnh nhuyễn thể sàng qua lưới, dày 1,5 cm). Thức ăn vẫn là tảo đơn bào với mật độ 20.000 – 30.000 tb/ml, tăng dần đến 200.000 – 300.000 tb/ml. Mật độ nuôi là 1 con/ml (5 triệu ấu trùng/bể 5 m3). Lúc ấu trùng mới xuống đáy, hàng ngày thay 50% nước, sau đó thay bằng phương pháp chảy tràn 1 – 2 giờ.

Thu hoạch và vận chuyển: thu hoạch khi tu hài đạt 7 – 10 mm. Vận chuyển kín con giống bằng túi nylon (18 cm x 70 cm) có bơm khí oxy với mật độ 1.000 con/túi, ở nhiệt độ 18 – 200C.


Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: